Giấy làm từ sợi thực vật ra đời ở Trung Hoa. Truyền thống ghi công cho viên quan Thái Luân vào năm một trăm lẻ năm, dù khảo cổ học cho thấy giấy đã có từ trước. Ý tưởng một vật liệu ghi chép rẻ, nhẹ, làm được từ vỏ cây và vải vụn đã lan qua châu Á, thế giới Hồi giáo rồi châu Âu, làm cho việc viết, chép và giữ tri thức rẻ đi trông thấy.
Chào bạn, đây là Nhà Tư Tưởng. Người ta hay nói máy in và sách rẻ đã đổi cách con người nghĩ, nhưng trước máy in phải có giấy. Tập này kể về một vật liệu tầm thường tới mức ta vò nát ném đi mỗi ngày, mà từng là một bí mật được giữ kín và là cuộc cách mạng thầm lặng của tri thức.
Khi chữ viết nặng như củi
Trước giấy, người Trung Hoa viết lên thẻ tre, thẻ gỗ xâu lại bằng dây, hoặc lên lụa. Thẻ tre rẻ nhưng nặng và cồng kềnh. Lụa nhẹ, đẹp nhưng đắt.
Có câu chuyện kể rằng vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tần mỗi ngày phải đọc một khối lượng văn bản tính bằng cân thẻ tre. Một cuốn sách dài có khi phải chở bằng xe.
Ở những nơi khác, người Ai Cập viết lên giấy cói làm từ thân cây cói, người châu Âu viết lên da thú thuộc mỏng. Giấy cói dễ mục trong khí hậu ẩm, da thú thì rất đắt: một cuốn sách lớn có thể cần da của cả đàn bê.
Khi vật liệu viết đắt, chữ viết thuộc về số ít. Ai muốn tri thức lan rộng thì trước hết phải giải bài toán vật liệu.
Thái Luân và những mảnh giấy cổ hơn
Theo sử sách Trung Hoa, năm một trăm lẻ năm, viên quan Thái Luân dâng lên vua nhà Hán một cách làm giấy từ vỏ cây, sợi gai, vải vụn và lưới đánh cá cũ, giã nhỏ, ngâm nước, rồi xeo thành tờ mỏng. Ông được ghi công là người phát minh ra giấy.
Nhưng khảo cổ học kể một câu chuyện phức tạp hơn. Ở nhiều nơi tại Trung Quốc, người ta đã đào được những mảnh giấy làm từ sợi thực vật có niên đại sớm hơn thời Thái Luân, có mảnh còn vẽ bản đồ.
Vậy có lẽ chính xác hơn khi nói Thái Luân là người cải tiến và chuẩn hoá cách làm giấy, khiến nó đủ tốt và đủ rẻ để dùng rộng rãi cho việc viết. Lại thêm một ví dụ về chuyện một cái tên đứng đại diện cho cả một quá trình.
Dù sao, từ thời Hán về sau, giấy dần thay thế thẻ tre và lụa trong việc viết ở Trung Hoa.
Đi theo con đường tơ lụa
Nghề làm giấy lan sang Triều Tiên, Nhật Bản, và cả vùng đất Việt. Về phía tây, nó theo những con đường buôn bán tới Trung Á.
Có một câu chuyện thường được kể rằng sau một trận đánh năm bảy trăm năm mươi mốt ở vùng Trung Á giữa quân nhà Đường và quân Hồi giáo, những người thợ làm giấy bị bắt đã truyền nghề ở Samarkand. Các sử gia ngày nay cho rằng câu chuyện có thể đã bị đơn giản hoá, và nghề giấy có lẽ đã tới vùng này từ trước qua buôn bán.
Điều chắc chắn là từ cuối thế kỷ thứ tám, Baghdad có xưởng giấy, và giấy trở thành vật liệu chính cho phong trào dịch thuật và sách vở rực rỡ của thế giới Hồi giáo mà mình từng kể. Giấy rẻ góp phần làm nên Nhà Thông thái.
Giấy tới châu Âu muộn hơn nhiều, qua Tây Ban Nha và Ý vào khoảng thế kỷ mười hai, mười ba. Không có giấy rẻ, máy in Gutenberg sau này khó lòng in được sách giá thấp.
Giấy dó bên bờ Hồ Tây
Ở Việt Nam, nghề làm giấy có từ lâu đời. Giấy dó, làm từ vỏ cây dó, là loại nổi tiếng nhất. Làng Yên Thái, thường gọi là làng Bưởi, bên Hồ Tây ở Hà Nội từng là một trung tâm làm giấy lớn, tiếng chày giã vỏ dó vang cả vùng.
Giấy dó mỏng mà dai, thớ dài, để được rất lâu. Nó được dùng chép sách, viết văn bản, làm giấy sắc phong, và là nền cho tranh dân gian Đông Hồ khi được phủ một lớp điệp lấp lánh.
Quy trình làm giấy dó vẫn gần với cách mà Thái Luân được kể đã làm: bóc vỏ, ngâm, nấu, giã nhuyễn, hoà vào bể nước, dùng khuôn mành tre xeo lên từng tờ, rồi ép và phơi.
Ngày nay nghề giấy dó thu hẹp nhiều, chỉ còn ở vài làng, nhưng đang được một số nghệ nhân và hoạ sĩ tìm cách hồi sinh như một chất liệu nghệ thuật.
Vật liệu rẻ là một ý tưởng lớn
Giờ mình nói sang bài học. Khi kể chuyện tri thức, người ta hay nói về những bộ óc vĩ đại. Nhưng nhiều bước ngoặt lại đến từ một vật liệu rẻ hơn. Giấy không chứa ý tưởng nào, nó chỉ làm cho việc ghi ý tưởng rẻ đi, và thế là đủ để đổi cả thế giới.
Một ý tưởng làm cho thứ gì đó rẻ đi gấp nhiều lần thường quan trọng hơn ý tưởng làm nó tốt lên một chút. Bạn có thể thấy điều này ở rất nhiều thứ quanh mình hôm nay.
Câu chuyện cũng nhắc mình rằng sách vở ta có hôm nay là nhờ những người thợ giã vỏ cây không ai nhớ tên, ở làng Bưởi, ở Samarkand, ở Baghdad.
Lần tới bạn cầm một tờ giấy trắng, thử nhớ rằng nó từng là một bí mật quý. Câu hỏi cho bạn: thứ gì trong nghề của bạn, nếu rẻ đi mười lần, sẽ làm thay đổi tất cả?
Câu hỏi thường gặp
Ai phát minh ra giấy?
Truyền thống Trung Hoa ghi công cho Thái Luân năm một trăm lẻ năm, nhưng khảo cổ học đã tìm thấy giấy có niên đại sớm hơn. Thái Luân thường được xem là người cải tiến và chuẩn hoá cách làm giấy.
Giấy dó được làm từ gì?
Giấy dó làm từ vỏ cây dó, qua các bước ngâm, nấu, giã nhuyễn, hoà vào nước rồi xeo bằng khuôn mành tre, ép và phơi. Giấy mỏng, dai và bền.
Làng giấy Yên Thái ở đâu?
Làng Yên Thái, còn gọi là làng Bưởi, nằm bên Hồ Tây ở Hà Nội, từng là một trong những trung tâm làm giấy dó nổi tiếng nhất của nước ta.
Giấy đến châu Âu khi nào?
Giấy được làm ở châu Âu khoảng thế kỷ mười hai, mười ba, trước hết ở Tây Ban Nha và Ý, sau khi nghề này đi qua thế giới Hồi giáo.
Trước khi có giấy người ta viết lên gì?
Tuỳ nơi, người ta viết lên thẻ tre, thẻ gỗ, lụa, giấy cói, da thú thuộc, đất sét, đá. Mỗi loại đều có nhược điểm như nặng, đắt hoặc dễ hỏng.